Chương IX

HÀ NAM TỪ THỜI TIỀN SỬ ĐẾN THẾ KỶ X

I. DẤU TÍCH CON NGƯỜI SINH SỐNG ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT HÀ NAM

Các nhà địa chất qua tư liệu cổ sinh đã đưa ra kết luận về quy mô phát triển của các thời kỳ biển tiến trong thời kỳ Đệ tứ kỷ ở đồng bằng Bắc Bộ và nhận định: “thể ghi nhận, trong thời kỳ Đệ tứ kỷ ở đồng bằng Bắc Bộ đã có ba thời kỳ biển tiến. Quy mô phát triển của mỗi thời kỳ có khác nhau, thời kỳ sau phát triển rộng hơn thời kỳ trước. Điều đó cho thấy, ở đồng bằng Bắc Bộ khó có thể tìm thấy các địa điểm khảo cổ thời đá cũ và đá giữa từ phía nam sông Đuống ra biển. Vì vùng này đang bị các trầm tích của biển Holocene giữa cũng như các thành tạo lục địa tương ứng vùi lấp ở các độ sâu tới vài mét, tới 30m đến 40m; và có thể nằm sâu hơn nữa về phía nam”(1).

(1). Đỗ Văn Tự - Biển tiến Pleistocene muộn ở đồng bằng Bắc Bộ, trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1985; Nxb.Khoa học xã hội. H. 1986. tr. 17 - 18

Hà Nam là một trong những vùng đất trầm tích trẻ của châu thổ Bắc Bộ, cho nên các di tích khảo cổ thời tiền sử được phát hiện ở Hà Nam cho đến nay đều là những di chỉ thuộc thời đại đá mới: như hang Chuông mang đặc trưng văn hoá Hoà Bình, hang Gióng Lở mang đặc điểm rõ nét của văn hoá hậu kỳ đá mới đầu thời đại đồ đồng... Hai di chỉ khảo cổ này đều thuộc dải sơn khối đá vôi ở xã Thanh Nghị (huyện Thanh Liêm). Di chỉ Hang Chuông nằm trong địa phận thôn Thanh Bồng (xã Thanh Nghị), được tiến hành thám sát năm 2001, hiện vật thu được trong hang gồm: công cụ chặt thô hình mai rùa, có vết ghè đẽo ở rìa cạnh, cùng một số mảnh tước và hạch đá. Hang Gióng Lở thuộc núi Chùa, thôn Bồng Lạng (xã Thanh Nghị). Năm 1986, người dân thôn Bồng Lạng đã phát hiện một chiếc cuốc đá dưới độ sâu khoảng 1m. Chất liệu làm cuốc đá là sa thạch, hạt mịn, màu sáng nhạt. Vào năm 2001, Viện Khảo cổ học Việt Nam cùng Bảo tàng Hà Nam đào hố thám sát gần nơi đã phát hiện cuốc đá năm 1986 và cũng đã tìm thấy một chiếc cuốc có hình dáng, chất liệu tương đồng, nhưng kích thước nhỏ hơn. Ngoài ra còn phát hiện thêm một số công cụ khác như bàn nghiền, chày nghiền... Dấu vết bếp lửa cũng đã được phát hiện ở một số di chỉ, xung quanh bếp đã tìm thấy xương động vật hoặc công cụ có vết đen do lửa cháy tạo thành. Những dấu vết và hiện vật của người nguyên thủy được phát hiện ở huyện Thanh Liêm đều thuộc nền văn hóa Bắc Sơn.

Ảnh: wikipedia

Những di tích này cho thấy dấu tích của người nguyên thuỷ đã xuất hiện tại Hà Nam vào hậu thời kỳ đồ đá mới cách nay khoảng trên dưới 5.000 năm. Có học giả cho rằng sự xuất hiện của cư dân làm lúa nước tại Hà Nam, bắt nguồn từ hai luồng di cư của tộc người Tày cổ từ phía Bắc xuống và của tộc người Mã Lai cổ hay Nam đảo từ biển ngược sông vào. Bên cạnh đó, có thể do sự “bùng nổ dân số” từ sơ kỳ thời đại kim khí nên đã bắt đầu có cư dân xuống trồng cấy ở vùng chiêm trũng và khi đó đã có một số làng chài - nông nghiệp ở ven chân núi cận kề sông và trũng. Họ là những phần tử “tiên phong” khai thác châu thổ Bắc Bộ(2).

(2). Trần Quốc Vượng: Việt Nam cái nhìn địa-văn hóa. Nxb.Văn hoá dân tộc. TC.Văn hoá nghệ thuật. H. 1998.

Cư dân thuộc văn hoá Hoà Bình ở Hà Nam cũng như cư dân thuộc văn hoá này được phát hiện trong các di chỉ khảo cổ học ở Hà Tây, Hoà Bình, Thanh Hoá, Lai Châu, Sơn La, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ninh... thường sống thành bộ lạc, ở trong các hang động và mái đá thuận lợi cho việc cư trú. Họ thường chọn những hang thấp gần sông, gần suối, hang của họ thường tập trung từng cụm từ 3, 4 hang đến 10 hang vây quanh một thung lũng. Đất đai mầu mỡ, sông ngòi nhiều nước là điều kiện thuận tiện cho việc trồng trọt các loại lúa nước. Trong thời kỳ tiếp theo, cư dân thuộc văn hoá Bắc Sơn trong các di chỉ phát hiện ở Hà Nam cũng như cư dân Bắc Sơn các vùng khác đã tiến hành chế tác đồ gốm. Các nhà khoa học cho rằng sự xuất hiện đồ gốm là một cái mốc để phân chia thời đại đá cũ với thời đại đá mới. Đồ gốm xuất hiện đã khiến cho cuộc sống của cư dân Bắc Sơn được cải thiện, nhất là trong việc chế biến thức ăn hàng ngày.

II. KHU VỰC HÀNH CHÍNH VÀ CƯ DÂN HÀ NAM THỜI KỲ VĂN HOÁ ĐÔNG SƠN

Vào thời Hùng Vương, Hà Nam thuộc vùng đất của bộ Giao Chỉ (thuộc Bắc Bộ ngày nay) gồm các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm, Bình

Lục và một phần đất của huyện Lý Nhân. Khi quốc gia Âu Lạc được thành lập (khoảng thế kỷ III trước Công nguyên) trên cơ sở hợp thành giữa Tây Âu và Lạc Việt, đất đai của Hà Nam cùng các vùng khác được phát triển về hướng đông. Cư dân Hà Nam cùng với cư dân cả nước từ những vùng hoang vu rậm rạp, đầm lầy tiến về xuôi theo triền các con sông Hồng, sông Đáy... tìm về những dải đất cao ráo, tiến hành khai hoang lập ấp, tạo dựng nên nơi cư trú. Họ đã cần mẫn lao động “một nắng hai sương”, dũng cảm chống lại mọi hiểm nguy của thiên nhiên, ác thú để tồn tại và phát triển. Họ đã tạo cho chính mình một cuộc sống ngày càng dễ chịu hơn và một nền văn hoá mang tính bản địa.

Trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn, với sự hình thành phát triển của quốc gia Văn Lang và sau này là Âu Lạc, cư dân Hà Nam đã cùng với cư dân cả nước, đạt tới một trình độ lao động và văn hóa khá cao thể hiện rõ nét trên những sản phẩm đồ đồng được phát hiện trên khắp miền Bắc, Việt Nam, từ vùng biên giới phía Bắc như Lào Cai, Tuyên Quang tới Quảng Bình. Di tích văn hoá Đông Sơn tập trung tại lưu vực ba dòng sông lớn là sông Hồng, sông Mã, sông Lam, được phân bố trên một diện rộng bao gồm cả ở miền núi lẫn đồng bằng cho tới ven biển. Những nơi phát hiện di tích văn hoá Đông Sơn thường ở những vùng đất cao, các chân đồi, ven sông suối, là vùng thuận tiện cho việc cư trú, đi lại của người nguyên thuỷ.

Trong số những hiện vật đồ đồng, tiêu biểu nhất cho văn hoá Đông Sơn là trống đồng. Theo sách Hậu Hán thư, cho đến những năm sau Công nguyên, viên tướng Mã Viện vẫn còn tìm mọi cách thu cho được nhiều trống đồng phương Nam. Chắc hẳn trống đồng phương Nam vừa đẹp lại có giá trị kinh tế cao, nên Mã Viện mới “say sưa” vơ vét đến vậy. Hà Nam là một trong những tỉnh có số lượng trống đồng được phát hiện nhiều nhất tại Việt Nam. Theo thống kê tính đến năm 2001, trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã phát hiện được 18 chiếc trống đồng cổ hầu hết thuộc loại HI sớm muộn, chỉ có 1 chiếc thuộc loại HIV theo phân loại của học giả Herger. Trong đó trống đồng Ngọc Lũ theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong, ngoài nước là chiếc trống có kích thước lớn nhất với đường kính mặt 79cm, cao 63cm, niên đại cổ nhất (cách ngày nay khoảng trên 3.000 năm) và hoa văn trang trí đẹp nhất.

Bên cạnh trống đồng thì các sản phẩm làm từ đồng để phục vụ cho đời sống hàng ngày của cư dân Đông Sơn như rìu đồng, giáo đồng, dụng cụ sản xuất nông nghiệp... cũng đã được tìm thấy tại Hà Nam(3).

(3). Mai Khánh: Rìu đồng Duy Tân (Hà Nam)- Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2001. Nxb Khoa học và xã hội, 2002. tr. 327-328.

 Trong đó, phải kể đến thạp đồng, một loại đồ dùng là sản phẩm độc đáo của cư dân Đông Sơn. Tính đến năm 2001, trên địa phận tỉnh Hà Nam đã tìm thấy 9 chiếc thạp đồng(4).

(4). Hà Văn Phùng: Thạp đồng Đông Sơn ở Việt Nam - Những phát hiện mới về khảo cổ học năm  2001. Nxb Khoa học xã hội, 2002, tr. 375-378.

Ngọc Hoa: Phát hiện hai chếc thạp đồng ở Bình Lục, Hà Nam – Những phát hiện mới v khảo cổ học năm 1999. Nxb Khoa học xã hội. H. 2000, tr. 336 - 337.

 Việc phát hiện chiếc “nhíp gặt lúa” bằng đồng tại Đọi Sơn (huyện Duy Tiên) được đoán định thuộc di vật thời đại Hùng Vương, khẳng định rõ hơn tình hình sản xuất nông nghiệp đương thời với những công cụ sản xuất đã đạt tới một trình độ khá phát triển.

Các hình ảnh khắc trên trống đồng Ngọc Lũ và một số trống đồng và đồ đồng khác cùng thời như: hình chim, hình lông công, mặt trời, cảnh giã gạo, múa hát, cảnh bơi thuyền và cảnh vui hội mùa... được miêu tả rất sinh động, phản ánh tình hình xã hội cùng đời sống của cư dân đương thời. Đồng thời cũng thể hiện kỹ thuật trong các nghề thủ công như đúc đồng, điêu khắc đạt tới một trình độ cao. Trên cơ sở nắm vững được kỹ thuật luyện kim, đúc đồng mà nền nông nghiệp lúa nước cổ truyền của cư dân Việt cổ có điều kiện phát triển lên một bước mới.

Mộ thuyền tập trung tại các vùng trũng của Hà Nam cũng chỉ rõ cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân Hà Nam thời xưa đối với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, đặc biệt là nạn lụt lội của vùng ô trũng hạ lưu sông Hồng. Tính đến đầu thế kỷ XXI, Việt Nam đã phát hiện khoảng gần 20 di tích mộ quan tài hình thuyền, được xác định thuộc văn hoá Đông Sơn. Tập trung nhất là vùng đồng bằng trũng của sông Hồng, sông Đáy và sông Nhuệ, bắt đầu từ các huyện phía nam Hà Tây như Thanh Oai, Ứng Hoà, Phú Xuyên đến huyện Duy Tiên, Kim Bảng, thị xã Phủ Lý của Hà Nam. Đặc điểm chung của hệ thống mộ thuyền được phát hiện tại những vùng ở Hà Nam như Mộc Bắc, Đọi Sơn, Yên Bắc (Duy Tiên), Thanh Sơn (Kim Bảng), Châu Sơn (thị xã Phủ Lý) là quan tài hình thuyền đều được làm từ thân cây gỗ xẻ đôi theo chiều dọc và khoét sâu lòng máng cả ở tấm ván thiên và ván địa. Các ngôi mộ đều được chôn ở vùng đất trũng ven sông và là đặc trưng địa - văn hoá của các mộ thuyền trước sau Công nguyên thuộc văn hóa Đông Sơn.

Niên đại của những ngôi mộ thuyền tại Hà Nam bước đầu có thể xác định vào khoảng từ thế kỷ III trước Công nguyên đến thế kỷ I sau Công nguyên (cách ngày nay khoảng 2.300 năm đến 2.000 năm). Tục chôn cất người chết bằng mộ thuyền có nguồn gốc từ những cư dân sống ở miền Đông Nam Á hải đảo, sau đó theo đường biển, văn hoá mộ thuyền được hội nhập vào văn hoá Đông Sơn, ngược theo các dòng sông du nhập vào các vùng trũng hai bên bờ sông Hồng(5).

(5). Trần Quốc Vượng: Việt Nam cái nhìn địa-văn hoá. Nxb.Văn hoá dân tộc: TC.Văn hoá nghệ thuật; H; 1998.

Sự phổ biến của văn hoá Đông Sơn trên một khu vực rộng lớn từ phía Bắc tới địa phận Quảng Bình cùng trình độ chung về kinh tế, chính trị, văn hoá của cộng đồng cư dân Việt cổ đã tạo cơ sở cho phép khẳng định về một nhà nước sơ khai của một quốc gia độc lập hình thành trong thời kỳ Hùng Vương.

Có thể nói chủ nhân xưa kia vùng đất Hà Nam, những người sống trong thời kỳ Hùng Vương đã trải qua một quá trình chinh phục, thích ứng và từng bước làm chủ vùng đất trũng lầy. Họ đã cùng với những người Việt cổ khác trên khắp cả nước góp phần xây dựng nên một nền văn minh bản địa đầu tiên của dân tộc: Đó là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc (hay còn gọi là nền văn minh sông Hồng). Nền văn minh này đã phát triển rực rỡ trong một thời kỳ dài, trên cơ sở của nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước với một kết cấu xã hội cố kết chặt chẽ giữa làng-vùng-miền-quốc gia của cộng đồng cư dân Việt cổ. Những giá trị văn hoá của nền văn minh này đã có đủ sức mạnh để tồn tại và nuôi dưỡng tinh thần độc lập trong suốt thời gian Bắc thuộc hơn một nghìn năm sau đó, để đến khi có điều kiện thì vùng lên kiên quyết đánh bại quân xâm lược, giành lại nền độc lập cho dân tộc.

III. CƯ DÂN HÀ NAM VỚI CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA CHỐNG ÁCH THỐNG TRỊ PHƯƠNG BẮC TRƯỚC THẾ KỶ X

1. Hà Nam với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

Năm 179 trước Công nguyên, cuộc kháng chiến giữ nước của nhân dân Âu Lạc chống quân xâm lược Triệu Đà bị thất bại. Từ đây, quốc gia Âu Lạc rơi vào vòng đô hộ liên tục trong nhiều thế kỷ của bọn cầm quyền phong kiến phương Bắc. Từ khi bị Triệu Đà cùng các thế lực phong kiến phương Bắc đô hộ, xã hội Việt cổ với kết cấu cổ truyền đã có những thay đổi to lớn. Những chính sách tàn bạo, nhằm vơ vét của cải triệt để của kẻ xâm lược đã kìm hãm nghiêm trọng sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Thay chân triều Tây Hán, vương triều Đông Hán còn áp dụng những chính sách thủ đoạn hà khắc hơn, khiến cho nhân dân nước ta càng lâm vào cảnh điêu linh.

Vào năm 34 sau Công nguyên, Hán Quang Vũ cử Tô Định thay Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ. Chính các sách sử Trung Quốc khi nhận xét về Tô Định cũng cho hay: Thái thú họ Tô là một viên quan tham lam hèn nhát. “Thái thú Tô Định thấy tiền thì giương mắt lên, đánh giặc thì cụp mắt lại...”(6).

(6). Đông quan Hán ký. q. 12. “Mã Viện truyện”.

 Chính sách nô dịch, bóc lột tàn bạo về chính trị và kinh tế cùng chính sách áp đặt về văn hóa của vương triều Đông Hán cộng thêm tính cách tham lam của viên quan đứng đầu họ Tô đã khiến cho lòng căm thù, tinh thần độc lập tự chủ của dân chúng nước Việt bùng lên mãnh liệt. Khối mâu thuẫn sâu sắc giữa người bị xâm lược với kẻ xâm lược đã phát triển tới đỉnh điểm. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu để nổ ra cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào những năm 40 của thiên niên kỷ thứ nhất với sự tham gia của nhiều người thuộc tầng lớp trên và đông đảo nhân dân lao động.

Theo sách Hậu Hán thưĐại Việt sử ký toàn thư, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng nổ vào mùa Xuân, tháng 2 năm Canh Tý niên hiệu Kiến Vũ thứ 16 tức vào tháng 3 năm 40 sau Công nguyên. Cuộc khởi nghĩa này được chuẩn bị chu đáo từ trong nội bộ gia đình Hai Bà Trưng; trước hết là sự giúp đỡ, hợp sức tích cực của người mẹ là bà Man Thiện (theo truyền thuyết có tên là Trần Thị Đoan) cùng hai người con gái là Trưng Trắc và Trưng Nhị với chồng của Trưng Trắc là Thi Sách. Sau này khi Thi Sách bị Tô Định giết, thì quyết tâm khởi nghĩa chống giặc Tô Định càng được tăng thêm mạnh mẽ.

Ngoài ra cuộc khởi nghĩa còn được sự ủng hộ nhiệt tình của đội ngũ quý tộc Lạc hầu, Lạc tướng cùng dân chúng trong hai huyện đất bản bộ của Hai Bà và Thi Sách là huyện Chu Diên và huyện Mê Linh. Mùa Xuân năm 40, khi cuộc khởi nghĩa được khởi xướng từ vùng đất Mê Linh, lập tức có sự hưởng ứng đông đảo của nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Nhiều nơi khác trong cả nước đã nhất tề nổi dậy. Sử sách chép: “Trưng Trắc, Trưng Nhị hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành trì ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng".

Cũng như đối với dân chúng của nhiều địa phương khác thuộc quận Giao Chỉ đương thời, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra đã có tác động tích cực tới dân chúng cùng các Lạc tướng, thủ lĩnh địa phương của Hà Nam. Vào thời Hán, vùng đất Hà Nam nằm giữa lưu vực sông Đáy và sông Hồng (tức toàn bộ các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, Lý Nhân, Bình Lục, Duy Tiên và thị xã Phủ Lý ngày nay) thuộc huyện Chu Diên (quận Giao Chỉ). Viên Thái thú Tô Định tham lam tàn bạo đã giết chồng Trưng Trắc là Thi Sách, một Lạc tướng và cũng chính là con dân người huyện Chu Diên(7).

(7). Lịch sử Hà – Nam – Ninh, T.I; Phòng nghiên cứu lịch sử Hà – Nam – Ninh; Hà – Nam – Ninh; 1986; tr.51.

Từ miền núi rừng các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm đến miền đồng bằng các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục thời đó đâu đâu cũng dấy lên một phong trào hưởng ứng và tham gia cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng khởi xướng(8).

(8). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr. 55 - 57

 Các thần tích và những câu chuyện kể mang tính truyền thuyết về thân thế cùng hành trạng của các vị tướng từng tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chống lại ách thống trị tàn bạo của các viên quan cai trị triều Đông Hán đã được sưu tầm tại nhiều địa phương như Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm... của Hà Nam. Tại thôn Dưỡng Mông, xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên), nữ tướng Nguyệt Nga đã tập hợp được hơn 2.000 người ngày đêm luyện võ nghệ, chờ thời cơ nổi dậy tiêu diệt giặc Hán. Khi nghe tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh, Nguyệt Nga đã đưa lực lượng nghĩa quân của mình hợp sức cùng Hai Bà Trưng đánh đuổi ngoại bang. Sau khi giành được thắng lợi, Nguyệt Nga được phái về cai quản chính quyền tại phủ Lý Nhân(9).

(9). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr. 55. Theo Lê Xuân Quang: Thờ thần ở Việt Nam. T.I: Nxb Hải Phòng, 1995; tr. 97 - 101: Sau khi Hai Bà Trưng xưng Vương, phong cho Nguyệt Nga làm Nguyệt Nga công chúa, lưu lại ở triều đình giúp chính sự.

Ở làng Thạch Tổ, xã Thanh Hà (huyện Thanh Liêm), cha đẻ của Cao Thị Liên bị bọn tay chân của Thái thú Tô Định sát hại, sau Cao Thị Liên lại bị đem về làm tỳ thiếp cho Tô Định. Để trả thù nhà đền nợ nước, Cao Thị Liên cùng với người em con cậu là Hoàng Nghệ dấy binh chống lại giặc Hán. Hai chị em Cao Thị Liên đã xây dựng căn cứ khởi nghĩa tại Thạch Tổ, tập hợp dân chúng đánh giặc.

Tại Lý Nhân, một phụ nữ khác tên là Lê Thị Chân cũng giương ngọn cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược. Lê Thị Chân đưa quân sĩ của mình hợp sức với lực lượng của Cao Thị Liên, nhiều lần đánh cho kẻ thù phải thất điên bát đảo tại Châu Cầu (nay thuộc thị xã Phủ Lý). Sau đó, họ Lê và họ Cao đưa toàn bộ lực lượng của mình tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng(10).

(10). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr. 55 - 57

 Có những câu truyện dân gian về nhân vật tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng mang tính huyền thoại được lưu truyền trong địa phương Hà Nam. Đó là truyện Bà áo the tại Liễu Đôi (huyện Thanh Liêm), nơi gần với con sông Đáy hiện còn nhiều di tích của khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Truyện kể rằng, thuở ấy, giặc phương Bắc xâm lược nước ta, tại làng Thượng có cô gái họ Lê, đẹp người lại có khí phách, giỏi võ kiếm, dân làng gọi cô là Tiên Thạch. Một đêm cô thấy Thần ban cho một chiếc áo the. Sau đó cô dùng chiếc áo the thần này để giết giặc. Theo Thần phả thì Bà áo the chính là một nữ tướng của Hai Bà Trưng(11).

(11). Khảo sát văn hóa truyền thống Liễu Đôi. Nxb. Khoa học xã hội; H. 1981, tr. 61-62.

Tại vùng núi Lạt Sơn (huyện Kim Bảng) còn phát hiện căn cứ cố thủ của nữ tướng Lê Chân để chống lại quân Đông Hán. Lê Chân vốn quê gốc ở trang An Biên, huyện Đông Triều (nay thuộc xã Thủy An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Sau khi Thái thú Tô Định sang trấn trị ở Giao Chỉ, bóc lột tàn ác, thuộc hạ của Thái thú họ Tô cũng hoành hành ở vùng ven biển Quảng Ninh. Chúng cưỡng bức nhiều thiếu nữ xinh đẹp của Giao Chỉ, buộc họ phải làm tỳ thiếp hầu hạ chúng. Lê Chân - người con gái tài sắc của trang An Biên cũng bị bọn chúng tìm cách cưỡng bức làm vợ. Nhằm tránh cái họa làm tỳ thiếp giặc, Lê Chân ôm hận thù cha đẻ bị giặt sát hại, đã lẩn trốn sang vùng đất bãi bồi ven sông Cấm Hải Phòng. Nàng đã chiêu tập được dân quanh vùng khai hoang lập ấp, thành lập trang An Biên.

Khi nghe tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, Lê Chân đã cùng một số tướng lĩnh chỉ huy đội quân trang An Biên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng lập được nhiều chiến công. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành thắng lợi to lớn, triều đình Trưng Vương thiết lập đã thực thi một số chính sách được lòng dân như: xóa bỏ chế độ thuế khóa của bọn đô hộ Hán, áp dụng luật tục Việt thay cho luật Hán. Đặc biệt triều đình Trưng Vương đã giao trọng trách cho một số nữ tướng đóng giữ những nơi xung yếu của đất nước, để ngăn chặn đường tiến công của kẻ địch trong mưu đồ tái chiếm lãnh thổ nước ta. Bà Lê Chân được phong làm Thánh Chân công chúa và được giao nhiệm vụ quan trọng là “Chưởng quản binh quyền nội bộ” đóng bản doanh ở trung tâm Giao Chỉ và coi giữ vùng biển phía Đông, Đông Bắc nước ta. Bà đã lãnh đạo đội quân phòng thủ “phên dậu phía Đông” ngăn chặn đoàn quân xâm lược Mã Viện ngay từ khi chúng mới đặt chân vào địa đầu đất nước theo đường biển. Theo tác giả Vũ Huy Chân trong tác phẩm Những người không chết (12).,

(12). Ngô Đăng Lợi: Tinh thần yêu nước, truyền thống quật cường của nhân dân Hải Phòng thời Bắc thuộc.

 nữ tướng Lê Chân còn đưa 1 đạo quân lên vùng Lạng Sơn để tiến đánh cánh quân bộ của Mã Viện vào xâm lược nước ta. Sau những ngày tháng cầm cự lâu dài, cuối cùng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị thất bại, song nhiều tướng lĩnh của Hai Bà Trưng vẫn ẩn náu nơi rừng núi, cùng dân chúng tiếp tục chống giặc ngoại xâm. Bà Lê Chân bí mật đưa đoàn quân của mình tới hoạt động tại vùng Hải Phòng - Kiến An - Hải Dương - Thái Bình - Hà Nam ngày nay. Đến cuối năm 43, vì thế cùng lực kiệt, quân giặc bao vây ráo riết, bà đã tuẫn tiết ở Lạt Sơn, xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam). Nhân dân quanh vùng thương tiếc đã lập miếu thờ bà tại Lạt Sơn, quanh năm hương khói. Sau này dân chúng ở An Biên - Hải Phòng, Đông Triều - Quảng Ninh và Lạt Sơn - Hà Nam đều ngưỡng vọng kính cẩn tôn xưng bà là “Thánh Mẫu”(13).

(13). Hiện còn ba tấm bia Thượng điện chùa Thập điện động Thánh Chân, khắc năm Tân Hợi, niên hiệu Dương Đức triều vua Lê Gia Tông (1671), Nam mô a di đà - Bia ghi công đức, khắc năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức (1572) triều vua Lê Gia Tông (1672) và Lệ của Họ Dương về Hội Tiên, kinh thánh về trời, khắc năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức (1572) triều vua Lê Gia Tông (1672) tại vùng núi Thung Suối Bể, thuộc xã Thanh Sơn huyện Kim Bảng. Nội dung ba tấm bia cung cấp nhiều tư liệu về lịch sử Nho giáo, Phật giáo, địa danh thời Lê Trung hưng... một số căn cứ của nữ tướng Lê Chân thời Hai Bà Trưng... Theo Lê Công Việt: Ba tấm bia cổ ở rừng núi Lạt Sơn (Hà Nam). Thông báo Hán Nôm học năm 2000. Viện nghiên cứu Hán Nôm; H, 2001, tr. 570 - 573.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng diễn ra cách ngày nay đã gần hai nghìn năm, võ công hiển hách của Hai Bà cùng các tướng lĩnh, nghĩa quân đương thời, trong đó có sự đóng góp tích cực của nhân dân Hà Nam, mãi mãi làm vẻ vang lịch sử nước nhà. Nhiều tấm gương tiết liệt của phụ nữ, nhân dân Hà Nam trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà còn được lưu truyền trong các truyền thuyết địa phương. Năm 43 sau Công nguyên, tên tướng cáo già Mã Viện được cử sang trấn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khi đưa quân tiến đến Hà Nam, hắn đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của nhân dân Hà Nam. Lực lượng quân chiến đấu do nữ tướng Nguyệt Nga lãnh đạo đã kiên trì kháng cự quân Hán khi chúng tiến đến vùng phủ Lý Nhân, song do vì quá chênh lệch về lực lượng, nên không thể cầm cự nổi. Nguyệt Nga phải nhảy xuống dòng sông Châu (thuộc huyện Duy Tiên), anh dũng hy sinh(14).

(14). Lịch sử Hà - Nam - Ninh, T.I: tr. 58

Tại đền thờ Nguyệt Nga ở thôn Yên Phú, xã Nhật Tựu (huyện Kim Bảng) còn đôi câu đối ca ngợi công lao cứu nước yên dân cùng cái chết lẫm liệt của Bà như sau:

Hộ quốc tiêm cừu, trục Tô Định, phù Trưng vương, chân dũng tướng,

Xả sinh tựu nghĩa, lương đống khu, Yên Phú xã, hiển linh thần.

Dịch nghĩa:

Giúp nước giết thù, đuổi Tô Định, phò Trưng vương, thật là viên dũng tướng.

Quên mình vì nghĩa, bậc lương đống, xã Yên Phú, hiển hiện bậc linh thần.

Có nhà sử học coi hiện tượng này như một sự kiện được “lịch sử hoá” của nữ thuỷ thần(15).

(15). Trần Quốc Vượng: Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, tr. 240-241: “Thôn Dưỡng Mông, xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên còn thờ bà Nguyệt Nga là nữ tướng Hai Bà Trưng, người sau đó cai quản cả vùng phủ Lý Nhân: Đây là một nữ thủy thần, được “lịch sử hóa” và được thờ ở nhiều nơi”.

Dù một số vị tướng của Hai Bà Trưng đã được “lịch sử hoá” vào những thần núi, thần sông hay thần sấm, gọi chung là “nhiên thần”, nhưng cũng phản ánh được một sự thật lịch sử là: sự tham gia tích cực của những cư dân sống trên đất Hà Nam ngày nay vào cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Ven đôi bờ sông Đáy có nhiều di tích nhất về các vị tướng của Hai Bà Trưng. Đây cũng là một minh chứng cho giả thuyết: Có một phòng tuyến sông Đáy trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng(16).

(16). Nguyễn Văn Trò: Di tích về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà - Nam - Ninh. Những Phát hiện về Khảo cổ học năm 1988; Nxb. Khoa học xã hội; H : 1989, tr.101.

Bùi Thiết: Làng xã ngoại  thành Hà Nội; Nxb.Hà Nội; H; 1985.

Bùi Thiết: Có một phòng tuyến sông Đáy trong cuộc khởi nghĩa kháng chiến  của Hai Bà Trưng. TC. Nghiên cứu lịch sử số 4: 1983; tr.28-37.

Nguyễn Vinh Phúc: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội. Nxb. Hà Nội: H; 1983.

Cho đến nay nhiều nơi ở Hà Nam vẫn còn thờ tự các vị tướng của Hai Bà Trưng ngay trên quê hương của họ. Cũng như Hà Nội, Hà Bắc, Hà Tây và Hoà Bình, Hà Nam là một tỉnh có nhiều di tích về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Qua điều tra bước đầu, có 60 nhân vật tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng được nhân dân Hà Nam phụng thờ ở tất cả các huyện Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân và thị xã Phủ Lý. Điều này phản ánh một thực tế là, toàn thể nhân dân trong vùng Hà Nam ngày nay đã dám xả thân vì sự độc lập của dân tộc, tích cực hưởng ứng tham gia khởi nghĩa chống giặc Đông Hán do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Phần đông những người được thờ tự đều là những người sinh trưởng tại vùng Hà Nam hoặc có sự gắn bó mật thiết với Hà Nam, trong số đó có một số tướng sĩ của Hai Bà Trưng tuy sinh ra tại các địa phương khác, song đã tham gia chiến đấu tại Hà Nam nên cũng được nhân dân Hà Nam ngưỡng mộ trước tinh thần quả cảm của họ, mà hương khói quanh năm. Nhân dân trong một số làng của Hà Nam còn thờ vọng các tướng lĩnh tham gia cứu nước giữ làng trong cuộc khởi nghĩa này. Hiện nay nhiều nơi trong tỉnh Hà Nam vẫn còn giữ những tục lệ tưởng nhớ tới công đức cùng phương pháp luyện tập quân sự của thời Hai Bà Trưng, như tục cướp cầu tại thôn An Mông, xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên), đấu gậy tại Đồng Mái, huyện Bình Lục...

DANH SÁCH CÁC NHÂN VẬT THAM GIA CUỘC KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG ĐƯỢC THỜ TẠI HÀ NAM (*)

(*) Danh sách dựa trên tư liệu sưu tầm đến năm 2003, do Cử nhân Mai Khánh cung cấp.

HUYỆN BÌNH LỤC

1. Ông Hướng Thiện:                            thôn Đước, xã Tiêu Động.

2. Ông Võ Lược:                                  thôn Gòi, xã Bình Nghĩa.

3. Ông Học Công:                                 -                  -

4. Bà Quạt Ngà:                                             -                  -

5. Bà Hồng Vân:                                            -                  -

6. Bà Nga Nương:                                 -                  -

7. Bà Hồng Nương:                               -                  -

8. Ba chị em họ Trương:           thôn Cát, xã Đinh Xá.

9. Bà Quỳnh Trân:                    thôn Tái Kênh, xã Đinh Xá.

10. Bà Hoàng Cả:                     thôn Thượng, xã Trịnh Xá.

11. Bà Hoàng Hai:                                -                  -

12. Bà Hoàng Ba:                                 -                  -

HUYỆN THANH LIÊM

13. Ông Nguyễn Phúc:                         xã Liêm Tiết.

14. Ông Nguyễn Dung:      thôn Văn Lâm, xã Liêm Tiết.

15. Ông Cao Bá Vân:                            xã Thanh Hà.

16. Bà Cao Thị Liên:                                                          thôn Thạch Tổ, xã Thanh Hà.

17. Bạch Hoa công chúa:       thôn Thạch Tổ, xã Thanh Hà.

18. Bà Liên Nương:                     xã Liêm Sơn.

19. Bà Áo The:                  xã Liêm Túc.

20. Bà Chân Y:                                     -

21. Bà Thổ Tinh:                         -

22. Quỳnh Anh phu nhân:            -

23. Bà Bạch Y:                  xã Liêm Thuận.

24. Bà Nương Nguyệt:                          -

25. Ông Đặng Khoan Nhân:  thôn Kênh Cạn, xã Thanh Lưu.

26. Ông Đặng Vạn Phúc:             -

27. Hảo Nương:                thôn Bồng Lạng, xã Thanh Nghị.

28. Lưu Nương:                                    -

29. Sơn Tinh công chúa:              -

30. Quách Thị:                   xã Thanh Phong.

31. Hoàng Mai công chúa:           -

32. Ngọc Dung công chúa:           -

33. Ngọc Dung công chúa:           thôn Thử Hòa, xã Thanh Tân.

34. Ngọc Dung công chúa:           thôn Cổ Động, xã Thanh Hải.

35. Linh Bảo Nương:                   xã Thanh Bình.

36. Ông Đốc:                              -

37. Nguyễn Thị Hạnh:                           -

38. Quỳnh Anh phu nhân: thị trấn Kiện Khê.

HUYỆN KIM BẢNG

39. Bà Lê Chân:                 thôn Lạt Sơn, xã Thanh Sơn.

40. Bà Thụy Nương:                    thôn Đặng Xá, xã Văn Xá.

41. Ông Nguyễn Phúc Tính:         xã Lê Hồ.

42. Bà Nguyệt Nga:            thôn Khê Khẩu, xã Kim Bình.

43. Bà Nguyệt Nga:            xã Đồng Hóa, xã Nhật Tựu.

44. Bạch Hoa công chúa:    thôn An Lạc, xã Kim Bình.

45. Bạch Hoa công chúa:    thôn Bút Phong, xã Liên Sơn.

46. Bà Nga Nương:            thôn Nông Vụ, xã Đại Cương.

47. Bà Liên Nương:            xã Thụy Lôi.

HUYỆN DUY TIÊN

48. Bà Nguyệt Nga:         thôn An Mông, xã Tiên Phong.

49. Bà Nguyệt Nga:         thôn Dưỡng Thọ,

50. Bà Nguyệt Nga:         thôn Yên Bảo, xã Tiên Ngoại.

51. Bà Nguyệt Nga:         thôn Yên Nộc,

52. Sơn Tinh công chúa:     thôn Trịnh, xã Duy Minh.

HUYỆN LÝ NHÂN

53. Lê Thị Chân:

54. Bà Bát Nàn:             thôn Nội, xã Đức Lý.

55. Ba anh em:               xã Hòa Hậu

- Nguyễn Mỹ Mạo

- Nguyễn Hộ Tấu

- Nguyễn Quận Nương

THỊ XÃ PHỦ LÝ

56. Cao Thị Liên:             thôn Thượng Tổ, xã Thanh Châu.

57. Bạch Hoa công chúa:             -

58. Nguyễn Thiện:           xã Phù Vân.

59. Bà Nguyệt Nga:         thôn Hòa Lạc, xã Lam Hạ.

60. Lê Hoằng Nghị:         xã Liêm Chung.

2. Hà Nam sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị thất bại. Trước sự đàn áp tàn bạo của Mã Viện, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân tạm thời lắng xuống. Chính sách nô dịch và đồng hoá của thế lực xâm lược được đẩy mạnh hơn trước. Chính quyền đô hộ Đông Hán tại nước ta đã thực hiện những biện pháp cải cách về chính trị và kinh tế nhằm ngăn chặn sự phản kháng của nhân dân. Trước hết chúng xoá bỏ hoàn toàn chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt ở cấp huyện.

Lúc này Mã Viện đại diện triều đình đô hộ Đông Hán tiếp tục chia nhỏ huyện Tây Vu là vùng trung tâm khởi nghĩa Hai Bà Trưng thành 3 huyện nhỏ gồm: Tây Vu, Phong Khê và Vọng Hải. Như vậy nước ta vào cuối thời Đông Hán về mặt hành chính gồm ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam; có 22 huyện, trong đó quận Giao Chỉ có 12 huyện, Cửu Chân có 5 huyện, Nhật Nam có 5 huyện. Hà Nam vẫn thuộc khu vực huyện Chu Diên của quận Giao Chỉ(17).

(17). Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Nxb. Khoa học xã hội; H. 2001; tr. 256-260.

 Sau khi nhà Đông Hán bị sụp đổ vào năm 219, đế chế Trung Hoa lại lâm vào cảnh khủng hoảng thời Tam quốc (220 - 280), nước ta lại bị nhà Ngô đô hộ.

Các triều đại phong kiến Trung Quốc như Ngô, Tấn, Nam triều kế tiếp nhau thống trị nước ta. Chúng tiến hành mở rộng lãnh thổ của Giao Châu, lập thêm những đơn vị hành chính mới, tăng cường hơn bộ máy thống trị, xiết chặt hơn ách đô hộ đối với nhân dân Giao Châu. Nhà Ngô đã chia nhỏ các đơn vị hành chính cấp quận và cấp huyện. Đến cuối thời Tam Quốc, Giao Châu gồm 6 quận, có 47 huyện(18).

(18). Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời; Nxb. Khoa học xã hội; H; 1964: tr.57.

Như vậy từ đời Hán đến Nam triều thế kỷ VI, vùng đất Hà Nam vẫn thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ. Các triều đại phong kiến Trung Quốc tìm mọi cách điều chỉnh khu vực hành chính ở Giao Châu nhằm đẩy mạnh khả năng kiểm soát, kiềm chế nhân dân bản địa, ngăn chặn các cuộc khởi nghĩa tại đây. Cùng với việc cải cách chính trị, cải cách kinh tế cũng được giai cấp thống trị tại Giao Châu chú ý nhằm tăng cường vơ vét của cải, tài nguyên, các sản vật quý. Ngay viên Thứ sử Giao Châu là Chu Thặng cũng từng dâng thư lên vua Hán trình bày tình trạng tham nhũng của quan lại: “Giao Châu, nơi xa cách, quan lại tập tục tham ô. Họ làm đủ điều gian trá, trưởng sử tha hồ bạo ngược, bóc lột nhân dân” (19).

(19). Lê Trắc: An Nam chí lược, q.,7.

Người Việt thời này chịu cảnh tô thuế nặng nề, mức thu không có quy định cụ thể. Các viên Thái thú, Thứ sử Trung Hoa càng quan tâm đến việc tuyên truyền du nhập văn hoá, giáo dục khoa cử, chữ Hán, Nho giáo, Phật giáo. Chính sách văn hoá, tôn giáo Hán không nằm ngoài mục đích đồng hoá nhân dân Giao Châu. Tại vùng đất Hà Nam, nhằm phục vụ chính sách đồng hóa của mình, nhà Hán đã thực thi biện pháp đưa người Hán sang “hỗn cư” với người Việt. Nhiều dấu tích các ngôi mộ Hán được phát hiện ở các huyện Bình Lục, Thanh Liêm, Duy Tiên... là những minh chứng rõ ràng.

Việc đẩy mạnh chính sách khai thác vơ vét của chính quyền đô hộ đã hạn chế sức sản xuất phát triển, mặc dù vậy do yêu cầu chung của xã hội, số lượng sản phẩm hàng hoá cung cấp cho xã hội của cả nước nói chung và của Hà Nam nói riêng vẫn ngày một tăng lên. Diện tích canh tác của vùng Hà Nam ngày được mở rộng do việc đẩy mạnh khẩn hoang và do phù sa bồi tụ hàng năm của các dòng sông Hồng, sông Đáy. Từ thời Đông Hán trở đi, Giao Châu đã xuất hiện kỹ thuật dùng cày để thay thế cho việc dùng cuốc. Việc cày bừa bằng trâu bò đã được mở rộng trên khắp miền Giao Chỉ, Cửu Chân. Các công cụ bằng sắt được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực nông nghiệp. Các công trình thuỷ lợi cũng nhờ có các công cụ bằng sắt mà phát triển và mở rộng hơn về quy mô cũng như diện tích. Nhân dân Giao Châu, trong đó có dân cư vùng nước trũng Hà Nam đã tích cực tìm kiếm nhiều chủng loại giống cây lương thực phù hợp với điều kiện địa hình nước trũng. Vào đầu Công nguyên, vùng Giao Chỉ, Hà Nam đã xuất hiện việc cấy trồng hai vụ lúa trong năm, sách sử Trung Quốc gọi loại lúa này là lúa Giao Chỉ(20).

(20). Lịch sHà - Nam - Ninh, T.I: tr.63.

 Việc áp dụng kỹ thuật, công cụ mới, phát triển hệ thống tưới tiêu, tăng cường giống mới, khiến cho năng suất lương thực, nhất là lúa gạo tăng lên đáng kể. Nếu vào thế kỷ I trước Công nguyên, triều Tây Hán còn phải dùng lừa, ngựa vận chuyển lương thực để cung cấp cho quan quân người Trung Hoa đóng tại Giao Châu, thì chỉ trong một thời gian không dài, tính riêng số thuế thu bằng thóc của chính quyền đô hộ triều Đông Hán tại Giao Châu đã đạt tới 13.600.000 hộc (tương đương 272.000 tấn thóc)(21).

(21).Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, tr. 274.

 Việc làm vườn, trồng rau mầu, cây hoa quả cũng phát triển. Rau muống là loại cây chịu nước, được trồng phổ biến trên các ao hồ, và những vùng ngập nước của Hà Nam. Chuối, vải, nhãn, cam... là những loại cây ăn quả nổi tiếng của Giao Châu được các hoàng đế Trung Hoa ưa dùng. Nhãn lồng, vải thiều, chuối tiêu, đặc biệt chuối ngự trồng tại Lý Nhân, thường là những loại được tiến cống hàng năm(22).

(22). Lịch sHà - Nam - Ninh, T.I: tr.63-64.

Nghề thủ công ở Giao Châu có những bước tiến đáng kể, kỹ thuật đúc đồng đã suy thoái, kỹ thuật rèn sắt được đẩy mạnh. Công cụ bằng sắt thay thế dần công cụ bằng đồng. Việc phát hiện các công cụ đồ sắt, các loại đồ gốm, có hoa văn hình S, vặn thừng quả trám, quan tài ghép mộng trong các ngôi mộ cổ ở xã Châu Sơn, huyện Kim Bảng (nay thuộc thị xã Phủ Lý), xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, dấu tích ngôi nhà sàn đầu Công nguyên (CN) tìm thấy tại Mộc Nam, huyện Duy Tiên(23)

(23). Lịch sHà - Nam - Ninh, T.I: tr.64.

        Tam Mai: Dấu tích ngôi nhà sàn đầu Công nguyên. Những phát hiện về khảo cổ học năm 1999; NXb. Khoa học xã hội; H.2000, tr. 369-370.

 chứng tỏ nghề rèn sắt, nghề mộc, nghề gốm tại Hà Nam đã đạt tới một trình độ khá cao. Trong số hơn một nghìn thợ thủ công có tay nghề thuần thục bị Tôn Tư, Thái thú Giao Chỉ đưa về Trung Quốc xây kinh đô Kiến Nghiệp (nay thuộc thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô) cho vua Ngô có thể có cả những người thợ khéo léo của Hà Nam. Nghề thủ công truyền thống như trồng dâu chăn tằm, dệt vải tại Dưỡng Mông, Nha Xá huyện Duy Tiên được đẩy mạnh (Lụa Nha Xá, cá sông Lảnh). Kinh tế hàng hoá giầu hơn cũng bước đầu phát triển với mạng lưới thương nghiệp gồm các chợ ở các vùng thôn quê, hàng phố tại các trung tâm thành thị được hình thành.

Sự chuyển biến về chính trị, kinh tế và văn hoá giáo dục đã làm thay đổi cuộc sống trên nhiều mặt của nhân dân Giao Châu, trong đó có nhân dân Hà Nam. Song, ách thống trị tàn bạo cùng sự bóc lột nặng nề của ngoại bang đã khiến cho nhiều người dân phải “lưu tán” và “vong mệnh”. Nhân dân Giao Châu quyết không chịu sống mãi kiếp lầm than. Sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tuy phong trào đấu tranh tạm lắng xuống, song tinh thần quật khởi của cư dân Việt vẫn bùng cháy vào những năm tiếp theo, thể hiện rõ trong các cuộc khởi nghĩa liên tiếp suốt hai thế kỷ đầu Công nguyên. Đó là các cuộc nổi dậy của nhân dân Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam vào những năm Vĩnh Nguyên thứ 12 (năm 100 sau CN), năm Vĩnh Hoà thứ nhất (năm 136 sau CN), năm Kiến Khang (năm 144 sau CN), cuộc khởi nghĩa của nhân dân Cửu Chân năm Vĩnh Thọ thứ 3 (năm 157 sau CN), cuộc nổi dậy của nhân dân Giao Chỉ, Hợp Phố năm Quang Hoà thứ 18 (năm 178 sau CN), của binh lính Giao Chỉ năm 184 sau CN.

Lực lượng khởi nghĩa của Giao Châu trong hai thế kỷ đầu CN, đã phát triển nhanh chóng, chiếm đất, giết chết quan lại nhà Hán, buộc triều đình Trung ương phải đem quân đến ứng cứu. Chính phong trào đấu tranh sôi động trong những năm đầu CN đã tạo thành cơ sở vững chắc cho các cuộc khởi nghĩa trong những thế kỷ tiếp theo. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Bà Triệu (tên thật là Triệu Thị Trinh) lãnh đạo nổ ra vào năm 248 sau CN tại núi Nưa thuộc huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá. Cuộc khởi nghĩa này (thường gọi là khởi nghĩa Bà Triệu), phát triển và mở rộng trên một quy mô lớn, được sự tham gia đông đảo của nhân dân nhiều vùng miền của Nhật Nam, Cửu Đức và Cửu Chân. Chắc rằng trong lực lượng đông đảo tham gia khởi nghĩa của Bà Triệu, có không ít con em nhân dân huyện Chu Diên (một phần đất Hà Nam ngày nay) nô nức hưởng ứng tòng quân. Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy cuối cùng bị thất bại, nhưng hình ảnh và ý chí chiến đấu bất khuất của người phụ nữ núi Nưa vẫn sống mãi với thời gian và được khắc sâu trong tâm thức dân gian. Sau khởi nghĩa Bà Triệu, phong trào đấu tranh chống giặc phương Bắc đô hộ tại Giao Châu vẫn tiếp tục dâng cao, có tới 9 cuộc khởi nghĩa đã diễn ra tại đây trong vòng hơn 200 năm(24).

(24). Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia; H. 2001, T.2. tr. 142-143.

3. Hà Nam trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí và Triệu Quang Phục

Vào cuối thập niên ba mươi của thế kỷ VI, dưới sự thống trị của Vũ lâm hầu Tiêu Tư, một Thứ sử triều Lương có tiếng “tàn bạo, mất lòng dân”, tình hình Giao Châu có nhiều biến động. Mâu thuẫn sâu sắc giữa những hào trưởng và nhân dân người Việt với chính quyền thống trị lên tới đỉnh điểm. Năm 541, Lý Bí phát động khởi nghĩa chống lại ách thống trị của triều Lương. Cuộc khởi nghĩa đã tập trung được nhiều tướng lĩnh, hào trưởng có tài năng như Tinh Thiều, võ tướng Phạm Tu, Lý Phục Man, tù trưởng Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục... và đông đảo nhất vẫn là những người dân lao động cực khổ của các vùng miền đất nước như Giao Chỉ, Cửu Chân, Cửu Đức... Nhân dân Hà Nam đã hưởng ứng và tập hợp theo đoàn quân khởi nghĩa đi dẹp giặc, nhiều lần lập công lớn. Trong đó nhân vật tiêu biểu nhất là tướng quân Đinh Lôi. Ông người thôn Nguyễn Trung, châu Lỵ Nhân (nay thuộc xã Liêm Phong, huyện Thanh Liêm). Cha ông là Đinh Phượng, vốn quê ở châu Ái (Thanh Hoá), vì nghèo khổ phải đưa gia đình ra vùng Hà Nam kiếm sống bằng nghề chài lưới.

Theo truyền thuyết, con trai của Đinh Phượng sinh ra có dáng hình kỳ dị, “mặt đen như sắt, tiếng khóc như sấm”, vì thế Đinh công quyết định đặt tên con là Đinh Lôi(25).

(25). Lịch sHà - Nam - Ninh, T.I: tr.65.

Năm 15 tuổi, Đinh Lôi mồ côi cả cha lẫn mẹ, thấy cảnh tàn bạo của giặc xâm lược Lương đối với dân chúng nghèo khổ nên muốn dẹp loạn cứu dân. Ông tập hợp được một đội quân khoảng vài nghìn thanh niên trai tráng quanh vùng Lỵ Nhân, ngày đêm luyện tập, chờ thời lập công. Nhân dân cùng các hào trưởng địa phương, kẻ giúp lương thực, người giúp khí giới cho đội nghĩa quân quê hương. Khi nghe tin Lý Bí dựng cờ khởi nghĩa ở châu Thái Bình, ông đưa lực lượng của mình tham gia. Thấy ông là người tài giỏi, hiểu nhiều biết rộng, Lý Bí liền cử Đinh Lôi làm tướng. Ông mang quân hợp sức với Phạm Tu - viên võ tướng tài giỏi của Lý Bí tiến đánh giặc Lương, lập được nhiều chiến công. Sau 3 tháng nổi dậy, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lý Bí, cuối năm 541 đầu năm 542, nhân dân cùng các hào kiệt đã đánh đuổi quan quân nhà Lương trên hầu hết các địa phương của Giao Châu, chiếm được thành Long Biên, khiến cho Thứ sử Tiêu Tư không dám chống cự, phải sai người mang của cải đút lót cho Lý Bí, rồi trốn chạy, lủi về Việt châu(26).

(26). Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam từ khởi nghĩa đến thế kỷ X. tr. 336.

 Lý Bí đặt bộ chỉ huy tại thành Luy Lâu ở Long Biên, bố trí lực lượng phòng bị, nhằm chống sự phản công của nhà Lương. Lý Bí đưa anh trai mình là Lý Thiên Bảo giữ miền Tân Xương (Vĩnh Phúc ngày nay), Lý Phục Man làm Uy viễn tướng quân giữ miền Nhật Nam(27).

(27). Đỗ Đức Hùng: Tìm hiểu cuộc khởi nghĩa Lý Bí (542-548). Luận án tốt nghiệp Đại học, khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp, niên khoá 1969-1973. Tr.35.

 Tướng quân Đinh Lôi được Lý Bí cử ra trấn trị miền Đông Bắc nước ta (vùng Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay). Đinh Lôi về quê nhà bái yết từ đường, trước khi ra phòng bị miền ven biển Đông Bắc. Vào tháng 4 năm 542 và đầu năm 543, nhà Lương liên tiếp tổ chức hai lần phản công nước ta. Lần đầu giặc Lương bị thất bại tại vùng Bắc Bộ, lần thứ hai cuộc chiến đấu chống phản công của quân ta diễn ra quyết liệt hơn. Lý Bí mưu trí, chủ động tiến đánh ngay trên đất của nhà Lương tại bán đảo Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông, Trung Quốc). Bị bất ngờ, kẻ địch luống cuống, trở tay không kịp, quân ta giành được thắng lợi oanh liệt, trong trận chiến đấu này tướng quân Đinh Lôi lập được nhiều công tích lớn. Tháng 5 năm 543, vua nước Lâm Ấp ở phương Nam lại đem quân xâm lấn vùng biển Cửu Đức (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh). Đinh Lôi được cử đi cùng võ tướng Phạm Tu đánh dẹp giặc Lâm Ấp, giữ yên biên cương phía Nam.

Sử nhà Lương chép: “Tháng 4, vua Lâm Ấp phá Đức Châu tấn công Lý Bí, tướng của Lý Bí là Phạm Tu lại phá vua Lâm Ấp tại Cửu Đức, vua Lâm Ấp bỏ chạy”. Cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo trong vòng một thời gian ngắn đã thu được thắng lợi trọn vẹn, làm chủ hoàn toàn đất nước. Tháng 2 năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, dựng triều đình, cắt cử quan lại, phong thưởng các tướng sĩ đã có công trong đó có Đinh Lôi cùng nhiều người dân vùng Hà Nam. Năm 545, Trần Bá Tiên, mới nhậm chức Tư mã Giao Châu lại đưa quân xâm lược Giao Châu, Lý Nam Đế cùng các tướng lĩnh và quân đội 3 vạn người đánh giặc tại vùng địa phận huyện Chu Diên (vùng Hải Dương, Hưng Yên ngày nay). Lần này, Đinh Lôi lại mang quân theo Lý Nam Đế tiến hành phản công quân giặc.

Sau khi Lý Nam Đế mắc trọng bệnh và từ trần tại động Khuất Lão (nay thuộc Phú Thọ) vào năm 548, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục. Đinh Lôi lại theo Triệu Quang Phục tiếp tục tham gia chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Do lập được nhiều công tích lớn, nên Đinh Lôi được phong làm “Sinh thần Đại vương”, cho thực ấp tại thôn Nguyễn Trung, xã Cát Đàm, phủ Lý Nhân. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện tại trong tỉnh Hà Nam tổng số 19 nơi thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm có đền thờ Đinh Lôi. Nhiều nơi hiện nay trên đất Hà Nam vẫn còn thờ các nhân vật tham gia khởi nghĩa Lý Bí, như hai anh em Dương Đức, Hồng Hán được thờ tại đình Nhân Trai, xã Đồn Xá, huyện Bình Lục; Nguyễn Khôi được thờ tại thôn Thanh Nộn, xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng. Thần tích tại đây cho biết: Nguyễn Khôi là người có khí phách, có công lớn phò tá triều Tiền Lý, chống lại ách đô hộ của nhà Lương. Nguyễn Khôi là một vị tướng tài, góp nhiều mưu lược trong khởi nghĩa, lại là người biết dùng đức trị để làm yên lòng dân chúng. Tại đình Thượng Thanh Nộn còn đôi câu đối ca ngợi tài năng, mưu lược của ông:

Quốc sơ vị hữu định thư, nam Lâm Ấp, bắc cường Lương, dĩ thoái tam xá,

Thượng cố hậu khuyết sử, tả Phạm Tu, hữu Triệu Túc, ưng nhượng nhất trù.

Dịch nghĩa:

Nước xưa chưa có sách ghi, nam là Lâm Ấp, phía Bắc là nhà Lương hùng mạnh, phải ba lần thua chạy,

Trước việc chép sử còn thiếu, phía trái có Phạm Tu, phía phải có Triệu Túc, còn phục mưu lược của ông: (chỉ Nguyễn Khôi)(28).

(28). Hồ Đức Thọ - Dương Văn Vượng: Lệ làng Việt Nam: Nxb. Hà Nội; H. 1999, tr. 35 - 36.

Triệu Quang Phục lại tiếp tục sự nghiệp của Lý Bí chống giặc Lương. Sau khi quân Lương thua chạy, đất nước được giải phóng khỏi ách thống trị ngoại bang, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, đóng đô tại Long Biên xưng là Triệu Việt Vương. Trong cuộc khởi nghĩa này, cùng với nhân dân trong cả nước, nhiều tướng lĩnh và nhân dân Hà Nam tích cực tham gia chiến đấu dưới ngọn cờ kháng chiến của Triệu Quang Phục. Hiện còn đền thờ Triệu Quang Phục tại bốn thôn trong huyện Lý Nhân, như đình thờ tại thôn Yên Trạch, huyện Lý Nhân đã nhiều lần được các triều đại ban tặng sắc phong, vẫn được dân chúng quanh vùng bốn mùa hương khói, như để nhắc nhở cháu con nhớ tới công lao của cha ông xưa.

Ngày nay mỗi khi giở lại trang sử chống ngoại xâm của dân tộc trong buổi đầu dựng nước và giữ nước từ thế kỷ I đến thế kỷ VI, không thể không tự hào về những đóng góp tích cực về nhân lực và vật lực của nhân dân Hà Nam trong khởi nghĩa Lý Bí, Triệu Quang Phục chống giặc Lương, với những vị tướng tài như Đinh Lôi, Nguyễn Khôi cùng những người dân tham gia khởi nghĩa. Họ đã xây dựng nên nhà nước Vạn Xuân độc lập sau 500 năm đấu tranh bền bỉ, kiên trì và vô cùng khốc liệt, đánh dấu sự trưởng thành của ý thức dân tộc cùng bước phát triển quan trọng của phong trào đấu tranh giành lại độc lập dân tộc của nhân dân ta trong thời kỳ Bắc thuộc.

Sau thất bại của triều Lương, các triều đại phong kiến Trung Quốc tiếp tục nhòm ngó và tìm cách đặt lại ách đô hộ lên đất nước ta. Năm 581, tướng Dương Kiên lật đổ triều Bắc Chu lập ra triều Tuỳ, xưng là Tuỳ Văn Đế. Nhằm thâu tóm quyền lực, triều Tuỳ tăng cường kiểm soát chặt chẽ mọi vùng miền. Khi đó, Giao Châu tuy thuộc dạng châu “ki mi” (ràng buộc lỏng lẻo), nhưng triều Tuỳ cũng thi hành chính sách hành chính bỏ quận lập châu, chia nước ta ra thành 6 châu: Giao Châu, Hưng Châu, Hoàng Châu, Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu. Vào thời Tuỳ Dưỡng đế năm 607, triều Tuỳ lại đổi châu thành quận, trực thuộc trung ương. Tất cả gồm có 7 quận, trong đó vùng đất Hà Nam ngày nay vẫn thuộc quận Giao Chỉ tức là quận Giao Châu đời Lương và đầu đời Tuỳ. Năm 618, triều Đường thay thế triều Tuỳ, chính quyền triều Đường lại cho bãi bỏ các quận mà triều Tuỳ lập ra tại nước ta, thay bằng các châu như cũ, đặt chức Đại Tổng quản Giao Châu, sau đổi làm Giao Châu đô hộ phủ. Năm 679 triều Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ, quản 12 châu, gồm 59 huyện từ Bắc Bộ đến Đèo Ngang và một phần các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Mỗi châu đều đặt chức Thứ sử, đứng đầu An Nam đô hộ phủ là một viên “Đô hộ” hoặc “Kinh lược sứ”. Khi này Hà Nam vẫn thuộc địa phận Giao Châu.

Triều Đường tăng cường quản lý xuống tận các cấp cơ sở ở An Nam. Chính mở rộng hệ thống hành chính dưới cấp huyện thành cấp hương và xã. Triều Đường còn đặt các châu ki-mi để dễ bề quản lý vùng thiểu số. Thủ lĩnh các bộ lạc đứng đầu các châu ki-mi này. Bên cạnh việc tổ chức lại hệ thống hành chính, triều Đường còn tăng cường chính sách bóc lột kinh tế nặng nề đối với nhân dân ta dưới hai hình thức: tô thuế và cống nạp. Không chịu được ách áp bức nặng nề của các thế lực ngoại bang về cả chính trị và kinh tế, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta vẫn tiếp tục nổ ra dưới thời thuộc Đường. Tiêu biểu nhất phải kể đến cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh đạo vào năm 722, tiếp theo là cuộc khởi nghĩa của ba anh em Phùng Hưng năm 791.

Cả hai cuộc khởi nghĩa đều đã giành được thắng lợi, lập nên chính quyền, xưng vương, song không được lâu dài, cuối cùng các khởi nghĩa đều bị thất bại. Những cuộc nổi dậy chống lại ách thống trị trong suốt mấy trăm năm của triều Đường trên đất nước ta, có ý nghĩa to lớn. Nó làm lung lay hệ thống chính quyền đô hộ phương Bắc ở nước ta, đồng thời là nguồn cổ vũ ý thức độc lập cho toàn dân. Đây cũng chính là những trận tập dượt quý giá cho phong trào giành độc lập thật sự của dân tộc sẽ diễn ra vào đầu thế kỷ X.

DANH SÁCH CÁC NHÂN VẬT THAM GIA KHỞI NGHĨA LÝ BÍ VÀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA TRIỆU QUANG PHỤC ĐUỢC THỜ Ở TỈNH HÀ NAM

 

STT

Họ và tên

(nhân vật)

Nơi thờ

Ghi chú

Xã (làng, thôn)

Huyện

1

Lôi Công đại vương

Đôn (th)

Bình Lục

Thôn: (th)

2

Lôi Công

Ông Cân (th)

x

Như trên: x

3

x

Bồ Xá (làng)

x

Làng: (làng)

4

x

Đuồn (làng)

x

 

5

x

La (làng)

x

 

6

x

An Cước (làng)

x

 

7

x

Cổ Lễ (th)

Thanh Liêm

 

8

x

Cự Xá (th)

x

 

9

x

Hạ (th)

x

 

10

x

Nguyễn Thưng (th)

x

 

11

x

Yên Việt (th)

x

 

12

x

Yên Cừ (làng)

x

 

13

x

Bến (th)

x

 

14

x

Hoàng Xá (th)

x

 

15

Triệu Quang Phục

Đọ (th) Nội Đọ (th)

Lý Nhân

 

16

x

Nội Kiều (th)

x

 

17

x

Yên Trạch (th)

x

 

18

Nguyễn Khôi

Thanh Nộn (th)

Kim Bảng

 

 

(Còn nữa)