Những năm qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) toàn diện trong quản lý công tác khám, chữa bệnh (KCB) luôn được ngành y tế tỉnh quan tâm, hỗ trợ thực hiện. Việc chuyển đổi sử dụng từ phần mềm Vimex sang phần mềm VNPT cho phép quản lý cơ sở dữ liệu tập trung, xuyên suốt toàn hệ thống, rút ngắn thời gian chờ đợi của người dân khi đến bệnh viện, trung tâm y tế, cơ sở KCB. Đây cũng là tiền đề cơ bản để “phủ sóng” hồ sơ quản lý sức khỏe điện tử cá nhân (EHR) trong toàn tỉnh, hướng đến mô hình “bệnh viện không giấy”, qua đó góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính.

Hướng dẫn người dân lấy số thứ tự thông qua quét mã QR trên thẻ bảo hiểm y tế.

Lợi ích từ số hóa quản lý sức khỏe toàn dân

Cùng với sự phát triển của công nghệ nói chung, sự hoàn thiện cơ sở pháp lý về ứng dụng CNTT trong đời sống xã hội, để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong ngành y tế, góp phần hiện đại hóa công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 46 quy định về hồ sơ bệnh án điện tử.

Theo đó, EHR là những dữ liệu, thông tin được số hóa từ bệnh án thực của bệnh nhân mỗi lần đến KCB tại bệnh viện. Trong đó, các dữ liệu cập nhật từ những thông tin cơ bản của người bệnh, như: thông tin cá nhân, triệu chứng, danh mục thuốc, kết quả xét nghiệm, phương án điều trị của bác sĩ…

Việc triển khai phần mềm công nghệ EHR thay thế cho việc sử dụng bệnh án giấy nhằm tạo thuận lợi, phục vụ người bệnh tốt hơn. Việc ứng dụng triển khai phần mềm công nghệ EHR cũng sẽ giúp cho bệnh nhân không cần phải lưu trữ và mang theo các loại giấy tờ (kết quả chẩn đoán, kết quả xét nghiệm, danh mục thuốc…) mỗi khi đi KCB; có thể dễ dàng so sánh từng chỉ số xét nghiệm, kết quả khám sức khỏe tổng quát định kỳ và quản lý thông tin sức khỏe của mình liên tục, suốt đời… qua đó, nâng cao ý thức chủ động, tự giác phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc sức khỏe của mỗi công dân. Đồng thời, EHR cũng hỗ trợ bác sĩ dễ dàng tìm kiếm lịch sử KCB của bệnh nhân, tránh được các chỉ định cận lâm sàng (siêu âm, xét nghiệm…) trùng lặp, giảm thời gian thăm khám, giảm thiểu sai sót y khoa, hỗ trợ điều trị kịp thời, giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị bệnh.

Bên cạnh đó, khi thông tin về sức khỏe của người bệnh được thông suốt giữa các tuyến, cơ sở KCB sẽ tạo điều kiện giúp việc chẩn đoán và phối hợp điều trị thuận lợi hơn, bảo đảm tính kịp thời, chính xác, toàn diện hơn.

Đối với công tác quản lý, việc ứng dụng triển khai phần mềm công nghệ EHR giúp ngành y tế có được dữ liệu về sức khỏe của người dân đầy đủ, chính xác và nhanh chóng. Qua đó, có các chỉ đạo kịp thời về phòng chống dịch bệnh; đưa ra các dự báo, hoạch định chính sách về công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe người dân kịp thời, chính xác hơn dựa trên những bằng chứng, cơ sở khoa học thực tiễn. Cùng với đó, khi thông tin về KCB của người bệnh được thông suốt, minh bạch, giúp cho việc quản lý chi phí KCB bảo hiểm y tế thuận lợi hơn, hạn chế việc lạm dụng thuốc và xét nghiệm nếu có.

Cần những bước chuẩn bị tích cực, chu đáo

Theo số liệu thống kê của ngành chức năng, toàn tỉnh hiện có 6 trung tâm y tế huyện, thành phố và 110 trạm y tế xã, phường, thị trấn đã cài đặt phần mềm quản lý bệnh viện VNPT-HIS (hệ thống thông tin bệnh viện).  Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã triển khai phần mềm liên thông các khoa, phòng về: danh mục thuốc, kết quả chụp XQ, kết quả xét nghiệm, lịch sử KCB của bệnh nhân… Cán bộ các khoa, phòng của bệnh viện cũng được trang bị máy tính để chủ động, nhanh chóng truy cập dữ liệu của bệnh nhân, từ đó đưa ra phác đồ điều trị, chẩn đoán ngay trên hệ thống. Ban giám đốc bệnh viện thông qua hệ thống này cũng có thể quản lý, xem diễn biến về quá trình điều trị bệnh kể cả khi không có mặt thường trực tại bệnh viện.

Tuy nhiên, phần mềm bệnh viện chỉ thực hiện lưu trữ dữ liệu bệnh nhân và một số dữ liệu hình ảnh cận lâm sàng, không lưu được toàn bộ thông tin người bệnh nên hiện tại bệnh viện vẫn phải thực hiện lưu trữ bệnh án giấy. Theo ông Văn Tất Phẩm, Phó Giám đốc Sở Y tế, việc cập nhật thông tin bệnh nhân trên máy tính đã thực hiện nhiều năm nay, nhưng để áp dụng hồ sơ bệnh án điện tử vào ngay lập tức thì cần giải quyết, khai thông một số vướng mắc, khó khăn liên quan đến các yếu tố: trang thiết bị máy móc, đào tạo nhân lực (để sử dụng hồ sơ điện tử, chữ ký điện tử) và vấn đề tài chính...

Thực hiện Thông tư số 46 của Bộ Y tế, hiện nay Sở Y tế Hà Nam đang xây dựng kế hoạch triển khai phần mềm công nghệ EHR theo từng bước đi phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tế của từng bệnh viện, trung tâm y tế trên địa bàn. Theo đó, đơn vị nào có đủ điều kiện sẽ triển khai trước, đơn vị nào còn khó khăn sẽ tìm hướng khắc phục để thực hiện theo đúng kế hoạch đề án. Đồng thời, cử cán bộ, bác sĩ đi học tập thực tế tại một số địa phương thí điểm, tham gia các lớp tập huấn do Bộ Y tế tổ chức (tại Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh) nhằm tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn, để về áp dụng tại địa phương.

Cũng theo ông Văn Tất Phẩm, trong quá trình xây dựng kế hoạch triển khai hồ sơ bệnh án điện tử, ngành y tế đã nhận ra một số bất cập gây ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng phần mềm mà thực tế ở một số địa phương thí điểm cũng đã thấy rõ những khó khăn, hạn chế đó, như: việc bảo đảm bí mật thông tin của bệnh nhân khi thực hiện bệnh án điện tử; việc đầu tư chữ ký số của người bệnh và bác sĩ trong khi chi phí cho phần mềm quản lý bệnh viện, phần cứng cơ sở hạ tầng của CNTT đã khá tốn kém; việc thanh toán viện phí không dùng tiền mặt là điều cần thiết, nhưng hiện tại phí ngân hàng vẫn còn cao, mỗi phát sinh trong quá trình thanh toán qua thẻ đều phải trả phí… Những bất cập trên đang được các bộ phận chức năng của Sở tổng hợp, phản ánh lên Bộ Y tế để có hướng điều chỉnh phù hợp trong thời gian sớm nhất.

Việc triển khai EHR sẽ góp phần thiết thực nâng cao chất lượng công tác KCB. Sở Y tế đang gấp rút hoàn thiện kế hoạch làm cơ sở cho các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh căn cứ tình hình thực tế, tích cực chuẩn bị chu đáo để bảo đảm việc thực hiện theo đúng lộ trình của Bộ Y tế đã đề ra.

Thanh Vân