Nội dung dưới đây sẽ giúp các bạn có thêm kiến thức về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành, liên quan đến vấn đề tốc độ tối đa cho phép của môtô và xe gắn máy.

Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 41:2016/BGTVT, quy định khái niệm về phương tiện cơ giới này như sau:

Xe môtô (hay còn gọi là xe máy) là xe cơ giới hai hoặc ba bánh và các loại xe tương tự, di chuyển bằng động cơ có dung tích xy-lanh từ 50 cm3 trở lên, tải trọng bản thân xe không quá 400 kg đối với xe máy 2 bánh hoặc khối lượng chuyên chở cho phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ từ 350 kg đến 500 kg đối với xe máy 3 bánh. Khái niệm này không bao gồm xe gắn máy.


Xe gắn máy là chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h. Nếu dẫn động là động cơ nhiệt, thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương không được lớn hơn 50 cm3.

Thị trường xe máy Việt Nam hiện nay hầu hết là xe Môtô theo quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, với dung tích xylanh động cơ (thực) lớn hơn 50 cm3.

Như vậy, các khái niệm trên văn bản quản lí nhà nước sẽ sử dụng chính là: xe môtô và xe gắn máy. Điều này khá khác biệt, vì trong thực tế, người dân vẫn hay gọi chung khái niệm về phương tiện cơ giới hai bánh này là: xe máy.

Ngoài ra, một điểm cần lưu ý quy chuẩn nhà nước đối với Xe gắn máy bao hàm cả động cơ điện, ngoài ra dung tích động cơ để làm căn cứ xác định khái niệm Môtô/Xe gắn máy là dung tích thực, chứ không phải là tên gọi. Ví dụ, Kymco Like 50 là tên gọi nhưng dùng động cơ 49cm3nên theo quy định hiện hành, sẽ là Xe gắn máy.

Dưới đây là tốc độ tối đa cho phép của môtô và xe gắn máy, với các hình vẽ đúng theo quy định kỹ thuật mới nhất (QCVN 41:2016/BGTVT).


Theo dantri